Bạch hạc sơn quyền là bài quyền của môn phái Quyền thuật tự do thuộc Võ thuật cổ truyền Việt Nam do võ sư Đinh Văn Lớn đơn vị tỉnh Vĩnh Long thị phạm giới thiệu và được Hội nghị chuyên môn Võ thuật cổ truyền toàn quốc bình chọn vào tháng 12 năm 2007 tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Ḥòa.

quyen
Hạc là loài bay lượn giỏi, tuy “mình hạc xương mai” nhưng khi đứng thì hiên ngang như cây tùng, cây bách. Hạc có vị trí trong các môn phái Võ cổ truyền Việt Nam, nhiều tên gọi từ căn bản đến chiêu thức, bài quyền, binh khí… mang hình bóng hạc như Hạc tấn, Hạc chủy, Hạc dực, Bạch hạc độc lập, Bạch hạc tầm giang, Bạch hạc thủ sào, Song hạc đới đầu, Dã hạc khai dực, Bạch hạc tản trảo, Dã hạc thủ động…

Bạch hạc quyền (Bai He quan) còn được gọi Thiếu Lâm Bạch Hạc quyền (Shaolin Bai He quan), tên phổ biến ở Trung Quốc là Phúc Kiến Vĩnh Xuân Bạch Hạc quyền (Fujian Yong Chun Bai He Ch’uan, chữ Hán: 福建 永春 白鶴拳, dịch nghĩa tiếng Anh là (Fujian Yong Chun White Crane Boxing) là một môn phái võ thuật thuộc dòng võ miền Nam Trung Hoa xuất xứ từ địa hạc Vĩnh Xuân (Yong Chun village) tại thành phố Phúc Thanh, thuộc thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, có căn bản phát tích từ chùa Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến.
Có nhiều cách phát âm tên của Bạch Hạc phái qua nhiều phương ngữ Trung Hoa khác nhau: Bạch Hạc quyền (Pai Hao Q’uan, Peh Ho Kuen), Bạch Hạc (Peh Hok, Bak Hok, Pak Hok), Bạch Hạc quyền (Bai He Q’uan) và Hạc quyền (He Q’uan). Bạch Hạc quyền cũng được biết dưới một tên khá phổ biến Ngũ Tổ quyền (the Southern Five Elder Style hoặc the Five Ancestors Fist Style hayWu Zu Q’uan), và Vịnh Xuân Phái (the Yong Chun Style) được phát âm theo tiếng Quảng Đông (Cantonese) là Wing Chun thường được dịch sang tiếng Việt là Vĩnh Xuân Bạch Hạc quyền (Yong Chun Bai He quan, Wing Chun Bak Hok Kuen).

Để hiểu rõ nguồn gốc khởi nguyên của Bạch Hạc phái, chúng ta phải hiểu các thời kỳ giai đoạn cách mạng khởi nghĩa ở Trung Hoa, như vậy chúng ta mới có một cái nhìn tổng thể ở đây. Bạch Hạc phái có lẽ khởi nguyên được hình thành đúng vào lúc xảy ra vụ hỏa thiêu chùa Nam Thiếu Lâm ở thành phố Toàn Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến vào năm 1763 tức năm Càn Long thứ 28, hoặc là trước hay sau thời điểm này một chút. Sau đó Bạch Hạc phái trở nên một bộ quyền Thiếu Lâm nổi tiếng. Nói cách khác, theo cách căn bản thì Thiếu Lâm Ngũ Hình quyền đã phát triển thành Bạch Hạc phái. Bạch Hạc phái vẫn còn duy trì bộ Ngũ Hình quyền và đã hoàn chỉnh bộ quyền thuật này sâu sắc hơn.

Hạc có vị trí quan trọng trong võ thuật cổ truyền vì hạc là biểu tượng cho chân khí sung mãn và tuổi thọ. Hạc có tên trong Thiếu Lâm ngũ hình quyền: Long (rồng), Hổ (cọp), Xà (rắn) , Hạc (chim hạc), Báo (beo) và cũng có tên trong Tiên gia nội công Ngũ cầm hí là Hùng (gấu), Hạc (chim hạc), Hổ (cọp), Hầu (viên), Lộc (nai).Yếu lĩnh luyện công Ngũ cầm hí là Tùng tĩnh tự nhiên, Ý Khí hợp nhất, Động tĩnh tương kiêm, Thượng hư hạ thực, Tuần tự tiệm tiến, Thần hình hợp nhất, Động tác viên hoạt, Miên man hàm xúc… Với Hạc hí thì “khinh thường an tĩnh, kỵ trọng trệ”, các thế tiêu biểu là Hạc bộ thế, Lượng dực thế, Độc lập thế, Lạc nhạn thế, Phi tường thế.

Theo các tài liệu tim hiểu về võ thuật thì người ta tin rằng hạc sống lâu nhờ thân thể tích lũy được một lượng tinh cực lớn. Tinh ở đây dùng để chỉ nguồn năng lực nguyên sinh hoặc sinh năng của loài động vật. Hạc vốn là con vật trầm tĩnh và có khả năng tập trung cao độ nên triển khai tinh một cách dễ dàng. Minh chứng ấy thể hiện ở động tác hạc có thể đứng bất động thời gian dài trên một chân rất kiên trì và tập trung. Do vậy luyện tập Hạc hình quyền hay Hạc hí thường diễn thế Bạch hạc độc lập.

Luyện Hạc hình quyền giúp người tập kiên thủ nội năng và tăng cường sức mạnh về nội lực lẫn ngoại lực. Tác dụng Hạc hình quyền là phát triển khí lực nội tại đồng thời làm cứng chắc xương và cơ bắp, hoàn thiện tốc độ, linh hoạt và thăng bằng khi xuất chiêu. Các động tác trong Hạc hình quyền đều mau lẹ, bền dẻo, sử dụng vùng thắt lưng mềm mại, uyển chuyển.

BẠCH HẠC SƠN QUYỀN
(Đầu tiên bái tổ, kính sư, Bạch hạc ra bộ, thôi sơn tấn liền)
Thăng thiên phượng dực xoay tròn,
Kim tiêu hồi bộ, song đao, xỉa tiền,
Thần cung xa tiễn, tấn tiên,
Cước ngang bộ phượng, bay lên móc liền,
Đăng sơn hữu tả xỉa nghiêng,
Bạt phong cước tới, song phi phượng hoàng,
Quét chân, hoành toạ đăng sơn,
Hồi thân phượng dực, xoay tròn thôi sơn,
Đăng sơn tả, hữu quy hình,
Thôi sơn tấn tiếp, cước ngang trảm xà,
Xoay người vươn bộ đăng sơn,
Cước ngang phi tới, xoay thân kính chào.